LogoSite
Home Sự Kiện

Sự Kiện


THỨ ĐẦU TIÊN LÀM THAY ĐỔI THẾ GIỚI
13/2026

THỨ ĐẦU TIÊN LÀM THAY ĐỔI THẾ GIỚI

Marcel Proust từng nói: “Chuyến hành trình khám phá đích thực không nằm ở việc đi đến những vùng đất xa lạ, mà ở việc có một đôi mắt khác để nhìn thế giới; nhìn bằng đôi mắt của vô vàn người khác, để nhận ra rằng mỗi con người đều mang trong mình một vũ trụ”. Điều con người nhận ra sau cùng thường lại là điều lịch sử đã bắt đầu trước tiên. Khi một cuộc cách mạng hiện ra bằng máy móc, bằng thể chế hay bằng quyền lực, phần sâu nhất của nó thường đã diễn ra trong im lặng, đó cách con người nhìn thế giới không còn như cũ. Mọi bước ngoặt lớn của văn minh đều bắt đầu bằng một sự dịch chuyển rất âm thầm. Trước khi máy hơi nước làm thay đổi nền sản xuất, trước khi điện làm thay đổi thành phố, trước khi trí tuệ nhân tạo làm thay đổi lao động, con người đã phải thay đổi một điều căn bản hơn - hệ quy chiếu mà họ dùng để hiểu thực tại. Khi điểm đứng thay đổi, cả thế giới quen thuộc bỗng mang một ý nghĩa khác. Hơn hai nghìn ba trăm năm trước, Heraclides Ponticus đã chạm vào một khoảnh khắc hiếm hoi của lịch sử tư tưởng. Ông không có công cụ hiện đại để khám phá, chỉ có một câu hỏi, “nếu không phải bầu trời đang quay quanh chúng ta, mà chính chúng ta đang quay thì sao?”. Câu hỏi ấy không làm Trái Đất quay, nhưng nó khiến con người lần đầu tiên nghi ngờ điểm đứng của chính mình. Heraclides vẫn nhìn thấy bầu trời mà mọi người cùng thời đều nhìn thấy; khác biệt nằm ở chỗ ông không còn đứng ở cùng một vị trí với họ khi nghĩ về nó. Chính từ sự dịch chuyển âm thầm ấy, một thế giới khác bắt đầu mở ra. Lịch sử tư tưởng nhiều lần lặp lại cùng một mẫu hình ấy. Copernicus khiến con người hiểu rằng Trái Đất không phải là trung tâm của vũ trụ. Darwin buộc con người nhìn lại vị trí của mình trong tự nhiên. Einstein làm lung lay quan niệm tuyệt đối về không gian và thời gian. Mỗi người trong số họ không chỉ bổ sung một tri thức mới, mà còn thay đổi cách nhân loại hiểu về chính mình và về thế giới. Điều đổi khác trước không phải là thế giới, mà là cách nhìn của con người đối với thế giới. Chúng ta đang sống trong một khoảnh khắc có cấu trúc rất giống như vậy. Nhiều người nghĩ trí tuệ nhân tạo chỉ là một công cụ mới, giống như máy tính hay Internet từng xuất hiện trước đây. Nhưng điều đang diễn ra sâu hơn nhiều. AI không chỉ làm thay đổi tốc độ xử lý thông tin, mà đang thay đổi vị trí của con người trước tri thức. Trong phần lớn lịch sử, người biết nhiều hơn thường có lợi thế lớn hơn. Tri thức từng là tài sản khan hiếm, và giáo dục được xây dựng trên niềm tin rằng càng biết nhiều, con người càng có giá trị. AI xuất hiện không chỉ để làm mọi việc nhanh hơn, mà để đặt lại chính niềm tin ấy. Khi máy có thể đọc, phân tích và viết với tốc độ vượt quá một cá nhân, điều đang lung lay không chỉ là một nghề nghiệp, mà là cách chúng ta hiểu về tri thức và về chính mình. Giá trị của con người vì thế sẽ ngày càng ít nằm ở điều mình biết hơn là ở điều mình nhìn thấy. Thứ đầu tiên cần thay đổi không phải là lượng tri thức chúng ta sở hữu, mà là hệ quy chiếu mà chúng ta dùng để nhìn tri thức. Một bộ óc đầy ắp kiến thức vẫn có thể thuộc về ngày hôm qua nếu nó tiếp tục nhìn thế giới bằng những giả định đã từng đúng trong một thời đại khác. Mọi cuộc cách mạng của văn minh đều bắt đầu khi con người dám từ bỏ những hệ quy chiếu đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của chúng để bước vào một cách hiểu mới về thế giới và về chính mình. Heraclides không dịch chuyển bầu trời. Ông chỉ dịch chuyển điểm đứng của con người trước bầu trời, nhưng chính sự dịch chuyển ấy đã mở ra một con đường mà nhiều thế kỷ sau nhân loại mới đi hết. Kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo hôm nay cũng đang đặt trước chúng ta một yêu cầu tương tự. Nó không buộc chúng ta trở nên thông minh hơn máy móc, mà buộc chúng ta trở nên can đảm hơn trong việc từ bỏ những điểm đứng từng làm nên chính mình. Lịch sử thường ưu ái những dân tộc nhận ra sự thay đổi của thời đại sớm hơn những dân tộc khác. Mỗi thời đại đều có một khoảnh khắc khi cách nhìn cũ không còn đủ để đưa một dân tộc tiến về phía trước, và chính lúc ấy, sự đổi mới hệ quy chiếu trở thành điều kiện tiên quyết của phát triển. Khi một dân tộc chủ động đổi mới hệ quy chiếu của mình, sự phát triển không còn chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng hay những con số kinh tế, mà bằng năng lực sáng tạo, khả năng làm chủ tương lai và sự đóng góp có trách nhiệm vào dòng chảy tiến bộ của nhân loại. Thay đổi để mở rộng tầm nhìn, để nâng cao tầm vóc, và sau cùng để trở thành một dân tộc có khả năng cùng nhân loại định hình tương lai, chứ không chỉ đi theo tương lai do người khác định hình./.   Theo Bản tin CTĐ-HUBT
DANH NHÂN VĂN HÓA LÊ QUÝ ĐÔN
13/2026

DANH NHÂN VĂN HÓA LÊ QUÝ ĐÔN

DANH NHÂN VĂN HÓA LÊ QUÝ ĐÔN Tầm vóc bách khoa toàn thư, di sản tri thức và bài học cho hậu thế Năm 2026, hướng tới kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 - 2026), việc nhìn lại cuộc đời, sự nghiệp và di sản của một trong những nhà bác học lớn của dân tộc có ý nghĩa đặc biệt. Đây là dịp tôn vinh những đóng góp của ông đối với lịch sử, văn hóa, giáo dục và học thuật Việt Nam, đồng thời lan tỏa truyền thống hiếu học, trọng tri thức, trọng nhân tài và khát vọng cống hiến cho thế hệ hôm nay. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Công văn số 4912/BGDĐT-HSSV ngày 30/7/2026 về tuyên truyền kỷ niệm sự kiện này, trong đó nhấn mạnh tầm vóc trí tuệ bách khoa và những giá trị di sản mà Lê Quý Đôn để lại cho hậu thế.            Lê Quý Đôn (2/8/1726-2/6/1784) Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, thế kỷ XVIII xuất hiện một trí tuệ đặc biệt mà dấu ấn vượt xa khuôn khổ của một nhà khoa bảng hay một vị quan triều đình. Đó là Lê Quý Đôn (1726 - 1784), nhà bác học lớn, nhà sử học, nhà văn hóa, nhà giáo dục và nhà hoạt động chính trị có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Cuộc đời ông gắn với tinh thần học tập, khảo cứu và lao động trí tuệ bền bỉ, để lại một khối lượng trước tác đồ sộ trên nhiều lĩnh vực. Sinh năm 1726 tại làng Diên Hà, Lê Quý Đôn sớm nổi tiếng thông minh, ham học. Năm 17 tuổi, ông đỗ đầu kỳ thi Hương; sau đó tiếp tục đỗ đầu kỳ thi Hội và kỳ thi Đình. Từ năm 1752, ông bước vào sự nghiệp quan trường và đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê - Trịnh. Ông từng tham gia biên soạn quốc sử, giảng dạy và được cử đi sứ nhà Thanh. Ở Lê Quý Đôn nổi bật khả năng kết hợp giữa học vấn uyên bác với vốn sống, giữa đọc sách với quan sát thực tế, giữa khảo cứu với suy ngẫm về đất nước và xã hội. Tầm vóc của Lê Quý Đôn được thể hiện rõ qua di sản tri thức đồ sộ. Đại Việt thông sử là công trình sử học quan trọng; Kiến văn tiểu lục tập hợp những ghi chép về lịch sử, văn hóa, chế độ, phong tục, địa lý và sản vật; Vân đài loại ngữ là công trình bách khoa tiêu biểu, hệ thống hóa tri thức trên nhiều phương diện. Toàn Việt thi lục tuyển chọn một khối lượng lớn thơ ca của các tác giả từ thời Lý đến thời Lê, góp phần quan trọng vào việc lưu giữ và hệ thống hóa di sản văn học dân tộc. Những công trình ấy cho thấy một năng lực hiếm có trong việc sưu tầm, khảo cứu, phân loại và hệ thống hóa tri thức. Đặc biệt, Phủ biên tạp lục cho thấy rõ phương pháp khảo cứu gắn với thực tiễn của Lê Quý Đôn. Trong thời gian làm việc ở Thuận Hóa, ông ghi chép về chính trị, kinh tế, xã hội, địa lý, sản vật và đời sống của vùng đất Đàng Trong. Tác phẩm cũng lưu giữ những tư liệu quan trọng liên quan đến hoạt động của đội Hoàng Sa và việc khai thác, quản lý các vùng biển đảo dưới thời các chúa Nguyễn, là nguồn tư liệu có giá trị trong nghiên cứu lịch sử chủ quyền biển đảo Việt Nam. Điều đáng trân trọng ở Lê Quý Đôn còn nằm ở phương pháp học tập và lao động trí tuệ. Ông đọc rộng, ghi chép nhiều, quan sát kỹ, coi trọng những điều mắt thấy tai nghe và luôn tìm cách đối chiếu, hệ thống hóa tri thức. Từ những vấn đề cụ thể của đời sống, ông mở rộng thành những nhận thức về lịch sử, xã hội và con người. Chính phương pháp ấy làm cho tri thức trong trước tác của ông vượt khỏi lối học kinh viện thuần túy, hướng tới việc nhận thức thế giới từ nhiều nguồn và nhiều góc độ. Ba trăm năm sau ngày sinh Lê Quý Đôn, giá trị lớn của di sản ông để lại vẫn nằm ở tinh thần học tập suốt đời, trọng thực học, trọng tri thức và trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước. Trong bối cảnh tri thức ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng của phát triển, bài học ấy càng có ý nghĩa. Học tập cần hướng tới hiểu biết thực chất, tư duy độc lập và khả năng vận dụng; nghiên cứu cần tôn trọng dữ liệu, sự thật và tinh thần phản biện; hội nhập quốc tế cần đi cùng bản lĩnh văn hóa và trách nhiệm với cộng đồng, dân tộc. Trong môi trường đại học, những giá trị ấy đặc biệt gần gũi với tinh thần “Thực học - Thực hành - Thực nghiệp” của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Từ câu chuyện Lê Quý Đôn, có thể thấy tri thức chỉ thực sự có sức sống khi được tích lũy bằng lao động nghiêm túc, được kiểm chứng trong thực tiễn và hướng tới những giá trị có ích cho xã hội. Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân Văn hóa Lê Quý Đôn vì thế là dịp khơi dậy trong cán bộ, giảng viên và sinh viên tinh thần ham học, trọng tri thức, say mê nghiên cứu, chủ động hội nhập và ý thức cống hiến. Từ một trí tuệ lớn của thế kỷ XVIII đến yêu cầu phát triển con người trong kỷ nguyên mới là một khoảng cách lịch sử dài, nhưng một giá trị vẫn còn nguyên sức sống: muốn đi xa, con người phải bắt đầu từ việc làm giàu tri thức và nâng cao năng lực của chính mình. Di sản Lê Quý Đôn vì thế vẫn là lời nhắc nhở sâu sắc đối với hậu thế: học để hiểu, nghiên cứu để khám phá, tri thức để hành động và cống hiến để những giá trị tốt đẹp của con người tiếp tục sống trong tương lai./.   Theo Bản tin CTĐ-HUBT
MỘT DÒNG SÁNG LẶNG
11/2026

MỘT DÒNG SÁNG LẶNG

MỘT DÒNG SÁNG LẶNG (Nhân đọc “Triết lý giáo dục Trần Phương” của GS.TS Nguyễn Công Nghiệp) Có những bài viết về nhân vật, đọc xong, người ta nhớ khoảng lặng người ấy để lại. Tôi đọc “Triết lý giáo dục Trần Phương” của GS.TS Nguyễn Công Nghiệp trong một buổi chiều không vội. Khép lại trang cuối, điều còn đọng lại không phải cảm giác vừa đi qua một tiểu sử, mà là vừa đi qua một đời người đã được chưng cất thành vẻ đẹp và một sự hào sảng rất riêng. Những chức vụ, những cột mốc, những năm tháng ở trung tâm của bộ máy nhà nước vẫn hiện diện, nhưng không giữ vai trò dẫn dắt. Điều nâng đỡ toàn bộ tác phẩm không phải những đỉnh cao trong sự nghiệp của nhân vật, mà là phần còn lại khi ánh sáng của quyền lực đã dịu xuống.                      GS. Trần Phương            Ta trao đi nghĩa là ta còn mãi Có lẽ vì thế, chân dung GS. Trần Phương mở ra theo một cách khác. Ông không bước vào trang viết như một nhân vật của quá khứ, mà như một người vẫn đang đối thoại với hiện tại. Những suy nghĩ về trường tư, về tự chủ đại học, về cơ chế quản lý, về sứ mệnh người thầy và trách nhiệm học trò không được kể như những quan điểm đã hoàn tất. Chúng được đặt trong trạng thái còn tiếp tục rung động, còn có thể gợi thêm các góc nhìn khác. Điều ấy khiến tôi chú ý đến một chi tiết tưởng nhỏ. Trong một cuộc đời có quá nhiều dấu mốc để lựa chọn, tác giả lại nhiều lần quay trở về nghề dạy học. Một người có thể được nhớ bằng thành tựu, bằng ảnh hưởng, bằng quyền lực từng nắm giữ; nhưng cũng có thể được nhớ bằng điều mà ông đã trao đi. Có những con đường đi rất xa để trở về một lớp học. Có những đời người sau nhiều dâu bể vẫn tỏa một thứ ánh sáng đủ để người khác tìm đường. Mạch văn nhiều lần đặt những chi tiết nhỏ cạnh nhau, và chính sự kề cận ấy tạo nên chiều sâu của thời gian. Đến đây, tôi chợt nghĩ, ký ức cũng có đạo đức của nó. Điều một người giữ lại sau cùng thường không phải điều từng làm nhân vật nổi bật nhất, mà là điều người ấy không nỡ để thời gian mang đi. Có những người kể lại một cuộc đời bằng những sự kiện lớn; có những người kể bằng chi tiết nhỏ; và cũng có những người kể bằng chính thứ tự của các chi tiết. Có lẽ vì thế, phần còn lại trong chân dung GS. Trần Phương không phải những cương vị ông từng giữ, mà là điều ông đã kiên trì theo đuổi. Những cuộc tranh luận của GS. Trần Phương về trường tư, về tự chủ đại học, về đại học phi lợi nhuận, về người thầy và học trò đều được kể với một nhịp điệu rất riêng - điềm đạm, tiết chế và bền bỉ - như những điều đã được suy nghĩ quá lâu, đến mức chỉ còn những câu hỏi sống cùng người đọc. Có lẽ chính sự tiết chế ấy làm nên khí chất của tác phẩm. Người viết không đứng ở phía trên nhân vật để đánh giá, cũng không đứng ở phía sau để ngợi ca. Tác giả giữ một khoảng cách đủ gần để nghe được giọng nói, đủ xa để nhìn được cuộc hành trình; nhờ thế, cảm xúc không đi trước sự thật và quá khứ không bị làm cho rực rỡ hơn chính nó. Bởi vậy, không gian văn học ấy có thứ ấm áp của ánh sáng cuối ngày, khi mọi đường nét hiện ra rõ hơn vì không còn bị ánh sáng ban trưa lấn át. Người viết dường như không quan tâm nhiều lắm đến việc GS. Trần Phương đã đứng ở đâu trong hệ thống, mà quan tâm đến việc ông đã đứng về phía điều gì trong những thời điểm quyết định của cuộc đời mình. Vị trí thuộc về thời thế; lựa chọn thuộc về nhân cách! Đến đây, mới hiểu vì sao từng trang viết lại lặng mà nặng. Nó không tìm cách làm cho nhân vật trở nên cao hơn. Nó chỉ kiên nhẫn gạt đi những gì dễ gây choáng ngợp để giữ lại những gì có khả năng ở cùng người đọc lâu hơn. Đó là một lối viết không nhiều lời, nhưng cực khó thể hiện. Có một chi tiết cuối cùng khiến tôi nghĩ rất lâu. Khúc tri ân GS. Trần Phương của GS. Nguyễn Công Nghiệp không khép lại ở một công trình, một học thuyết hay một dấu mốc lịch sử. Nó khép lại ở một cách nhìn. Đó là cách nhìn từ phía thời gian đã lắng xuống, khi những điều từng làm nên sự nghiệp của một con người không còn là điều đầu tiên được nhắc đến. Khi ấy, điều ở lại không phải là quyền lực, mà là ảnh hưởng; không phải là chức vụ, mà là những con người đã được hình thành; không phải là tiếng vang của một giai đoạn, mà là âm hưởng của một đời người. Sau trang viết, ở không gian tưởng thức của tôi, hai người Thầy đang đứng đó, họ trao đổi ánh nhìn của sự kế thừa và tiếp nối trong một khoảng lặng sáng. Người mở đường trao hết tâm huyết một đời đã chưng cất thành triết lý; người đi sau lặng lẽ nghiêng mình tiếp nhận bằng tất cả sự thấu hiểu và cẩn trọng của một tri âm. Trang viết không hỏi nhân vật đã đi xa đến đâu, mà hỏi điều gì trong con người ấy có thể tiếp tục đồng hành với những người ở lại. Có những bài viết khép lại ở trang cuối; bài viết này thì không. Nó còn ở lại trong cách người đọc nhớ về hai con người đã gặp nhau ở một tâm điểm - nơi giáo dục được xem như phần không dễ tàn phai của một đời người. Và đó là tiếng ngân dài mãi sau dấu cuối cùng. Chiều buông vệt nắng ai giữ được Vẫn đọng niềm riêng giữa cõi người Đèn thức đêm sâu thêm tỏ rạng Lặng lẽ riêng soi một khoảng trời Hà Nội, những ngày chớm Thu, 2026 Theo Bản tin CTĐ-HUBT  
NGƯỜI HỌC ĐẠI HỌC ĐANG MUỐN HỌC GÌ VÀ HỌC NHƯ THẾ NÀO ?
11/2026

NGƯỜI HỌC ĐẠI HỌC ĐANG MUỐN HỌC GÌ VÀ HỌC NHƯ THẾ NÀO ?

Người học đại học hôm nay thực sự muốn học gì và học như thế nào? Chưa bao giờ người học có nhiều cách tiếp cận tri thức như hiện nay. Một chiếc điện thoại có thể mở ra giáo trình, bài giảng, khóa học, dữ liệu và chuyên gia ở khắp nơi. Công nghệ đang làm việc học nhanh hơn, linh hoạt hơn; thị trường lao động cũng thay đổi với tốc độ mà chương trình đào tạo khó có thể đứng yên.                                                          Thực học - Thực hành - Thực nghiệp Theo Future of Jobs 2025 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, đến năm 2030, khoảng 39% kỹ năng cốt lõi của người lao động sẽ thay đổi hoặc trở nên lỗi thời. Người trẻ bước vào đại học vì thế không còn bước vào một thị trường lao động cố định để tìm một công việc ổn định suốt đời. Họ cần một cách học khác. HỌC ĐỂ LÀM ĐƯỢC VIỆC Sinh viên ngày càng quan tâm đến câu hỏi: “Học xong tôi làm được gì?”. Đó không hẳn là một cách nghĩ thực dụng. Khi công việc thay đổi nhanh, việc người học muốn nhìn thấy mối liên hệ giữa kiến thức và thực tiễn là hoàn toàn dễ hiểu. Một kiến thức có giá trị hơn khi người học biết sử dụng nó để giải quyết một vấn đề. Một kỹ năng có ý nghĩa hơn khi có thể biến thành năng lực làm việc. Một học phần thuyết phục hơn khi sinh viên nhìn thấy nó liên quan thế nào đến nghề nghiệp và cuộc sống. Bởi vậy, người học cần được làm thử, va chạm, sai, sửa và làm lại. Một dự án, một tình huống thực tế, một đề tài nghiên cứu, một kỳ thực tập có thể đem lại những kinh nghiệm mà việc chỉ ghi nhớ nội dung giáo trình khó thay thế. Học để vững tin hành nghề trong tương lai “Học để làm được” không có nghĩa biến đại học thành trường dạy nghề. Tri thức nền tảng vẫn là điều không thể thiếu. Nhưng khoảng cách giữa “biết” và “làm được” không thể cứ để người học tự lấp sau khi tốt nghiệp. Đây cũng là điều thị trường lao động đang đòi hỏi. Một nền kinh tế thay đổi nhanh không chỉ cần người có bằng cấp, mà cần những người có thể bắt tay vào việc, xử lý tình huống và tiếp tục học khi công việc thay đổi. HỌC ĐỂ TRƯỞNG THÀNH, ĐỂ CHINH PHỤC THỜI ĐẠI Một công nghệ hôm nay có thể nhanh chóng trở thành công nghệ của hôm qua. Một nghề có thể thay đổi cách làm. Một vị trí việc làm có thể biến mất và một vị trí khác xuất hiện. Người học vì thế phải học để không bị mắc kẹt trong một công việc khi thế giới thay đổi. Điều họ cần là khả năng tự mình đi tiếp, là khả năng tự học, giao tiếp, hợp tác, sáng tạo, giải quyết vấn đề và thích ứng với những hoàn cảnh chưa từng gặp. Những năng lực ấy không mới. Nhưng trong một thế giới mà tri thức thay đổi nhanh hơn, nghề nghiệp biến đổi nhanh hơn và công nghệ ngày càng làm được nhiều việc hơn, chúng lại trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. WEF cũng xếp tư duy phân tích, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng và học tập suốt đời vào nhóm năng lực quan trọng của thị trường lao động tương lai. Đại học không thể dạy hết những gì một người sẽ cần trong 30-40 năm làm việc. Nhưng đại học phải giúp họ biết cách học tiếp trong 30-40 năm ấy. Đó mới là trưởng thành bền vững. Để chinh phục thời đại mới, người học cần biết sử dụng công nghệ, nhưng không thể giao việc suy nghĩ cho công nghệ. Cần tiếp nhận nhiều thông tin, nhưng phải biết chọn lọc. Cần thích ứng với cái mới, nhưng vẫn phải có nền tảng đủ vững để không bị cuốn theo mọi trào lưu. Chinh phục thời đại mới không phải là biết thật nhiều công cụ mới, mà là đủ năng lực để làm chủ sự thay đổi. ĐẠI HỌC PHẢI THAY ĐỔI Sự suy tàn của một cơ sở đại học có thể bắt đầu từ lúc người học không còn muốn học những gì nhà trường đang dạy, doanh nghiệp không tìm được ở người tốt nghiệp những năng lực họ cần; những chương trình đào tạo vẫn tồn tại chủ yếu vì chúng đã tồn tại quá lâu; người học tìm đến những con đường khác để có kiến thức và kỹ năng cần thiết. Đây không phải một nguy cơ xa. Tại Mỹ, Pew Research Center từng ghi nhận chỉ 25% người được hỏi cho rằng bằng đại học bốn năm rất hoặc cực kỳ quan trọng để có một công việc lương tốt; 49% cho rằng bằng đại học ngày nay ít quan trọng hơn 20 năm trước. Điều đó không có nghĩa đại học mất giá trị, nhưng cho thấy xã hội không còn mặc nhiên coi tấm bằng là bảo đảm cho thành công nghề nghiệp. Trung Quốc đang có một cách phản ứng rất quyết liệt. Theo China Daily, trong giai đoạn 2019-2024, hơn 5.000 chương trình đào tạo đại học đã bị loại bỏ; riêng năm 2023 có 1.670 chương trình bị hủy và năm 2024 thêm 1.428 chương trình. Đồng thời, hàng nghìn chương trình mới được mở ở những lĩnh vực xã hội và nền kinh tế đang cần. Không thể lấy việc đóng ngành để kết luận một nền giáo dục tốt hay xấu. Nhưng câu chuyện ấy cho thấy một điều rất rõ: chương trình đào tạo không thể bất biến trong khi nhu cầu của xã hội thay đổi. Vậy các cơ sở đại học cần thay đổi từ đâu? Trước hết là chương trình đào tạo. Cần rà soát những nội dung trùng lặp, lạc hậu; mạnh dạn bỏ những gì không còn phù hợp và dành chỗ cho những kiến thức, năng lực mới. Không phải cứ thêm môn học là đổi mới. Đôi khi đổi mới bắt đầu bằng việc biết bỏ cái cũ. Tiếp theo là cách dạy. Khi người học có thể tiếp cận thông tin từ rất nhiều nguồn, giờ học không thể chỉ là nơi giảng viên truyền đạt những gì đã có trong giáo trình. Giá trị của người thầy ngày càng nằm ở việc giúp sinh viên hiểu sâu, đặt câu hỏi, tranh luận, kết nối và nhìn thấy những điều không dễ tìm thấy bằng một lần tìm kiếm. Rồi đến cách đánh giá. Nếu đề thi chủ yếu yêu cầu nhớ và viết lại, sinh viên sẽ tiếp tục học để nhớ. Muốn hình thành năng lực, phải đánh giá bằng tình huống, dự án, sản phẩm, nghiên cứu, thuyết trình, tranh luận và khả năng giải quyết vấn đề. Quan trọng hơn cả là cách nhà trường đến gần người học. Lắng nghe sinh để biết họ đang học như thế nào, gặp khó khăn gì, thiếu năng lực nào khi bước vào thực tế và những gì họ đang tự tìm kiếm bên ngoài chương trình. Đại học phải giúp họ học cả những điều khó - đọc sâu, suy nghĩ độc lập, tranh luận, nghiên cứu, kiên trì và chịu trách nhiệm. Lấy người học làm trung tâm là hiểu họ đủ sâu để giúp họ trở thành người mà chính họ chưa chắc đã hình dung hết. Người học hôm nay muốn học cái mới để làm được việc, học để trưởng thành và học để chinh phục thời đại mới. Còn các cơ sở đại học phải tự hỏi, người học đã thay đổi, vậy mình đã thay đổi đến đâu? Trong giáo dục đại học, điều đáng sợ là những chương trình vẫn tồn tại, nhưng người học không còn cần đến nó nữa. Thay đổi không còn là lựa chọn, thay đổi là điều kiện để tồn tại./.   Theo Bản tin CTĐ-HUBT  
NHỊP ĐIỀU HÀNH Ở HUBT - GIỮ GUỒNG, NỐI VIỆC
11/2026

NHỊP ĐIỀU HÀNH Ở HUBT - GIỮ GUỒNG, NỐI VIỆC

Từ giữa tháng Tám, Ban Giám hiệu Nhà trường tập trung điều hành nhiều nhiệm vụ trọng tâm: tổ chức nhập học khóa 31; hoàn tất năm học 2025-2026; tổng kết, xét tốt nghiệp, kiểm tra và hoàn thiện chuyên môn; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ; phối hợp triển khai các nhiệm vụ của Trường Cao đẳng. Các công việc diễn ra đồng thời, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị, bảo đảm tiến độ và giữ nhịp vận hành chung của Nhà trường. HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO DUY TRÌ LIÊN TỤC GIỮA HAI NĂM HỌC Ngay trong tuần 17-23/8, công tác nhập học sinh viên đại học chính quy khóa 31 được triển khai theo kế hoạch từ ngày 15/8 đến 28/8. Phòng Công tác Sinh viên tập huấn cán bộ thu hồ sơ; ban Chỉ đạo khám sức khỏe đầu vào tập huấn đoàn khám. Cùng thời gian, Nhà trường vẫn tổ chức thi lại, thi nâng điểm học kỳ II năm học 2025-2026. Tập huấn khám sức khỏe đầu vào cho K31 Tân SV K31 chờ làm thủ tục nhập học Sang tuần 24-30/8, nhập học khóa 31 tiếp tục được tổ chức cả ngày từ 24 đến 28/8. Trong khi đó, Hội nghị Tổng kết năm học 2025-2026 được tổ chức và Hội đồng xét tốt nghiệp tiếp tục làm việc để xét tốt nghiệp các khóa 27 trở về trước. Trong cùng một thời gian, các nhiệm vụ ở đầu vào, quá trình và đầu ra của đào tạo đều được triển khai. Khóa mới được tiếp nhận, sinh viên các khóa trước hoàn tất những yêu cầu cuối cùng, trong khi các đơn vị tổng kết năm học cũ và chuẩn bị cho năm học mới. Việc duy trì đồng thời các hoạt động này cho thấy yêu cầu bảo đảm tính liên tục của quá trình đào tạo. Ở mỗi khâu, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thành công việc theo kế hoạch mà còn bảo đảm sự phối hợp giữa các bộ phận có liên quan. Điều này đặc biệt rõ trong thời điểm chuyển tiếp, khi nhiều nhiệm vụ được triển khai đồng thời và thời gian xử lý có sự chồng lấn. BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO QUA KIỂM SOÁT VÀ HOÀN THIỆN CHUYÊN MÔN Trong tuần 17-23/8, Hội đồng thẩm định cấp Trường tổ chức thẩm định các bộ câu hỏi thi TNM kết thúc học phần đáp ứng chuẩn đầu ra của Khoa Luật - Kinh tế. Sang tuần cuối tháng, Nhà trường họp về đơn giá thù lao các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ và kiểm định chất lượng; Hội đồng Khoa học cấp trường thẩm định tài liệu học tập “Văn hóa, Đạo đức công vụ” dành cho cao học. Các nhiệm vụ tập trung vào những khâu cụ thể của hoạt động đào tạo và quản lý chuyên môn. Từ chuẩn đầu ra, bộ câu hỏi, tài liệu học tập đến đào tạo, nghiên cứu khoa học và kiểm định chất lượng, việc thẩm định và hoàn thiện được thực hiện theo quy trình, góp phần bảo đảm tính thống nhất, chuẩn mực và hiệu quả.      Lễ trao bằng tốt nghiệp cử nhân ngành ngôn ngữ Trung Quốc Việc tổ chức các hoạt động chuyên môn theo từng khâu cũng cho thấy yêu cầu quản lý chất lượng ngày càng cụ thể. Những nội dung được thẩm định, kiểm tra và rà soát đều liên quan trực tiếp đến quá trình đào tạo, tạo cơ sở để các đơn vị tiếp tục hoàn thiện công việc. KIỂM TRA VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG QUẢN TRỊ Ngày 25/8, Ban Giám hiệu tổ chức họp thông báo kết quả kiểm tra của Đoàn Kiểm tra Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cùng ngày, Nhà trường báo cáo kết quả triển khai phần mềm sắp xếp lịch giảng thực hành cho giảng viên khối Sức khỏe, với sự tham gia của các khoa Răng Hàm Mặt, Y, Dược, Điều dưỡng và các đơn vị chức năng. Kết quả kiểm tra là cơ sở để tiếp tục rà soát, hoàn thiện công tác quản lý; việc triển khai phần mềm hướng tới nâng cao hiệu quả tổ chức đào tạo và phối hợp giữa các đơn vị. Trước đó, ngày 18/8, Nhà trường cũng họp về bản quyền phần mềm với đại diện nhiều đơn vị và khoa chuyên môn. Những nội dung này cho thấy chuyển đổi số ngày càng gắn với yêu cầu tổ chức, quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà trường. Việc ứng dụng công nghệ nhằm hỗ trợ một khâu nghiệp vụ, từng bước trở thành công cụ phục vụ công tác quản lý và tổ chức đào tạo. PHỐI HỢP TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ GIỮA CÁC ĐƠN VỊ Ngày 18/8, lãnh đạo Nhà trường làm việc với Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng; ngày 19/8, Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng triển khai các công việc theo ý kiến của Sở Xây dựng tỉnh Phú Thọ. Ngày 20/8, lãnh đạo Trường Cao đẳng làm việc với các khoa Cơ điện tử - Ô tô, Điện điện tử, Dược, Điều dưỡng của Trường Đại học về phối hợp xây dựng đề án mở mã ngành; đồng thời triển khai công tác tuyển sinh và gửi giấy báo nhập học. Sang tuần 24-30/8, nội dung mở mã ngành tiếp tục được triển khai với các khoa Y, Răng Hàm Mặt và Y học cổ truyền; các vấn đề về giám thị, giảng dạy, học phí và kiểm toán tài chính cũng được đưa vào chương trình công tác. Đồng thời, công tác kiện toàn tổ chức, phân công nhiệm vụ được triển khai, gắn với từng lĩnh vực phụ trách. Các nhiệm vụ liên quan đến tổ chức, đào tạo, tuyển sinh, giảng dạy và quản lý tài chính tiếp tục được các đơn vị triển khai theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Khoa Kế toán đã công bố quyết định, phân công nhiệm vụ đối với các thành viên Ban Chủ nhiệm Khoa Chuỗi nhiệm vụ cho thấy công tác điều hành được triển khai trên phạm vi rộng, với sự tham gia của nhiều khoa, phòng và đơn vị, từ đào tạo, tuyển sinh đến tổ chức giảng dạy và quản lý tài chính. Yêu cầu phối hợp vì vậy ngày càng quan trọng trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Cùng với đó, việc phối hợp giữa các đơn vị cần bảo đảm rõ trách nhiệm và tiến độ chung. Khi một nhiệm vụ liên quan đến nhiều đơn vị, hiệu quả cuối cùng phụ thuộc không chỉ vào kết quả của từng bộ phận mà còn vào khả năng phối hợp trong toàn bộ quá trình. GIỮ ỔN ĐỊNH HOẠT ĐỘNG, SẴN SÀNG CHO NHỮNG YÊU CẦU MỚI Hai tuần từ giữa đến cuối tháng Tám cho thấy nhiều nhiệm vụ được triển khai song song, các nhiệm vụ không tách rời nhau. Công tác nhập học gắn với công tác sinh viên; đào tạo gắn với khảo thí, chuẩn đầu ra và xét tốt nghiệp; ứng dụng công nghệ gắn với yêu cầu quản lý...Nếu giai đoạn đầu tháng tập trung nhiều vào chuẩn bị các điều kiện cho năm học mới, thì hai tuần tiếp theo cho thấy rõ hơn quá trình tổ chức thực hiện, kiểm tra và hoàn thiện. Chương trình điều hành hiệu quả không chỉ được thể hiện ở số lượng công việc được triển khai, mà ở khả năng tổ chức để các công việc được thực hiện đồng bộ, đúng tiến độ và hướng tới mục tiêu chung. HUBT đang duy trì sự ổn định của hoạt động đào tạo, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị và tiếp tục hoàn thiện những điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển. Giữ guồng để bảo đảm hoạt động thường xuyên, nối việc để tăng hiệu quả phối hợp. Đó là những yêu cầu cụ thể trong công tác điều hành, góp phần tạo nên sự ổn định và hiệu quả của toàn bộ hoạt động Nhà trường./.   Theo Bản tin CTĐ-HUBT  
CHÍNH SÁCH TUYỂN SINH MỚI VÀ SỨC ÉP ĐỔI MỚI  ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC - NHÌN TỪ HUBT
17/2026

CHÍNH SÁCH TUYỂN SINH MỚI VÀ SỨC ÉP ĐỔI MỚI ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC - NHÌN TỪ HUBT

Quy chế tuyển sinh đại học năm 2026 đánh dấu một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản lý giáo dục đại học. Những điều chỉnh mới đặt các cơ sở đào tạo trước yêu cầu đổi mới quản trị, nâng cao chất lượng và tăng cường trách nhiệm giải trình. Từ góc nhìn của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (HUBT), có thể thấy những thay đổi của chính sách đã tạo ra sức ép, đồng thời mở ra cơ hội để các trường đổi mới mô hình phát triển theo hướng chất lượng, hiện đại và bền vững. Trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, giáo dục đại học Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Chất lượng, tự chủ và trách nhiệm giải trình trở thành những yêu cầu xuyên suốt đối với các cơ sở đào tạo. Cùng với việc mở rộng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học, Nhà nước cũng từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, bảo đảm công bằng và chất lượng trong tuyển sinh. Những định hướng này cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Kết luận số 91-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 29 và chủ trương phát huy tự chủ đại học gắn với trách nhiệm giải trình. Những điều chỉnh trong Quy chế tuyển sinh đại học năm 2026 vì vậy không chỉ là sự thay đổi về quy trình kỹ thuật mà phản ánh tư duy quản lý mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Mục tiêu đặt ra không còn dừng ở việc tổ chức tuyển sinh thuận lợi cho thí sinh, mà hướng đến xây dựng một hệ thống tuyển sinh minh bạch, đồng bộ, dựa trên dữ liệu và gắn chặt với yêu cầu bảo đảm chất lượng đào tạo. Một điểm nổi bật của Quy chế tuyển sinh mới là tiếp tục chuẩn hóa toàn bộ quy trình tuyển sinh trên hệ thống chung, từ đăng ký nguyện vọng đến xác nhận nhập học. Việc ứng dụng dữ liệu số góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm sai sót kỹ thuật và tăng trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo. Cùng với đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục duy trì quy định về ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào đối với một số nhóm ngành đặc thù. Đây là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm chất lượng nguồn tuyển, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và bảo vệ quyền lợi của người học. Trong điều kiện tự chủ đại học ngày càng được mở rộng, chất lượng đầu vào không thể bị đánh đổi để chạy theo số lượng tuyển sinh. Các trường tiếp tục được chủ động lựa chọn phương thức tuyển sinh nhưng phải công khai điều kiện xét tuyển, nguyên tắc quy đổi điểm và chịu trách nhiệm giải trình về kết quả tuyển sinh. Điều đó cho thấy tự chủ luôn đi cùng với minh bạch và trách nhiệm. Nhìn tổng thể, những điều chỉnh trong chính sách tuyển sinh đang định hình phương thức quản trị đại học hiện đại, lấy chất lượng làm trung tâm, dữ liệu làm nền tảng và xem tuyển sinh là khâu mở đầu của chuỗi bảo đảm chất lượng. Chính sự thay đổi về tư duy quản lý ấy đang tạo ra sức ép đổi mới đối với các trường đại học. Nếu trước đây mục tiêu chủ yếu là tuyển đủ chỉ tiêu, thì hiện nay yêu cầu đặt ra là tuyển đúng người học, đào tạo đúng chuẩn và khẳng định uy tín bằng chất lượng thực chất. Đây cũng là vấn đề mà các cơ sở giáo dục đại học, trong đó có Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội cần chủ động thích ứng để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Từ những thay đổi đó, các cơ sở giáo dục đại học đang phải đối mặt với sức ép đổi mới toàn diện. Trong bối cảnh tự chủ đại học được đẩy mạnh, tuyển sinh ngày nay không còn là nhiệm vụ riêng của bộ phận tuyển sinh mà phản ánh năng lực quản trị, chất lượng đào tạo và uy tín của mỗi nhà trường. Trước hết là sức ép nâng cao chất lượng đào tạo. Khi thông tin tuyển sinh ngày càng minh bạch và người học có nhiều cơ hội tiếp cận, so sánh giữa các cơ sở đào tạo, lợi thế cạnh tranh không còn nằm ở số lượng phương thức xét tuyển hay quy mô tuyển sinh, mà ở giá trị thực mà nhà trường mang lại. Chất lượng chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, điều kiện học tập, mức độ gắn kết với doanh nghiệp và tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp đang trở thành những tiêu chí quan trọng để người học đưa ra lựa chọn. Điều đó cho thấy, tuyển sinh không còn là điểm khởi đầu mà là kết quả của cả quá trình xây dựng chất lượng. Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, sức hút tuyển sinh không đến từ truyền thông đơn thuần mà được quyết định bởi chất lượng đào tạo và uy tín của nhà trường. Bên cạnh đó là sức ép đổi mới quản trị. Các quy định mới đòi hỏi mọi hoạt động tuyển sinh phải được thực hiện trên nền tảng dữ liệu, bảo đảm tính công khai, minh bạch và có khả năng giải trình. Điều này yêu cầu các trường phải đầu tư mạnh hơn cho chuyển đổi số, hoàn thiện hệ thống thông tin, nâng cao năng lực phân tích và dự báo nguồn tuyển, đồng thời xây dựng chiến lược phát triển dựa trên minh chứng thay vì kinh nghiệm. Từ góc độ quản trị, tuyển sinh cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển của nhà trường. Việc mở ngành, xác định chỉ tiêu hay lựa chọn phương thức xét tuyển phải gắn với nhu cầu nhân lực của xã hội, khả năng bảo đảm chất lượng và định hướng phát triển dài hạn của cơ sở đào tạo. Đây cũng là xu hướng quản trị đại học hiện đại mà nhiều quốc gia trên thế giới đang áp dụng. Không chỉ từ chính sách, sức ép đổi mới còn đến từ sự thay đổi nhanh của công nghệ và thị trường lao động. Sự phát triển của AI và chuyển đổi số đang làm thay đổi yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp, buộc các trường thường xuyên cập nhật chương trình đào tạo và tăng cường gắn kết với doanh nghiệp. Điều này cho thấy cạnh tranh trong tuyển sinh thực chất là cạnh tranh về khả năng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế số. Có thể khẳng định, chính sách tuyển sinh mới không tạo thêm rào cản cho các trường đại học mà đặt ra những chuẩn mực phát triển cao hơn. Những thay đổi trong chính sách tuyển sinh đang đặt các cơ sở giáo dục đại học trước yêu cầu phải đổi mới toàn diện, từ tư duy quản trị đến mô hình phát triển. Đây không chỉ là sức ép của một mùa tuyển sinh mà là đòi hỏi mang tính chiến lược đối với quá trình xây dựng một nền giáo dục đại học chất lượng, hiện đại và hội nhập. Bước vào giai đoạn phát triển mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Nhà trường, HUBT tiếp tục đổi mới quản trị theo hướng hiện đại, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng đào tạo và phát huy hiệu quả cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình. Chất lượng đào tạo tiếp tục được xác định là nền tảng của sức cạnh tranh thông qua cập nhật chương trình, tăng cường thực hành và mở rộng hợp tác với doanh nghiệp. Đây là cơ sở để Nhà trường nâng cao năng lực thích ứng, khẳng định vị thế và phát triển bền vững. Trong giáo dục đại học hôm nay, tuyển sinh vừa là cuộc cạnh tranh để có nhiều người học hơn, vừa là cuộc cạnh tranh để tạo ra nhiều giá trị hơn. Giá trị ấy được đo bằng chất lượng đào tạo, bằng niềm tin của xã hội và bằng sự trưởng thành của mỗi sinh viên sau khi tốt nghiệp. Đó cũng là thước đo bền vững nhất của một trường đại học trong kỷ nguyên tự chủ, chuyển đổi số và phát triển dựa trên chất lượng./.   Theo Bản tin CTĐ-HUBT
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐỦ PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC VÀ UY TÍN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẤP THIẾT TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
12/2026

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐỦ PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC VÀ UY TÍN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẤP THIẾT TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu phát triển đất nước nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, công tác cán bộ tiếp tục giữ vai trò then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Thực tiễn cho thấy, mọi chủ trương, chính sách chỉ có thể đi vào cuộc sống khi được tổ chức thực hiện bởi đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Phẩm chất chính trị, đạo đức là nền tảng của người cán bộ Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”. Đối với cán bộ, phẩm chất chính trị và đạo đức công vụ luôn là yêu cầu hàng đầu. Mỗi cán bộ phải giữ vững bản lĩnh chính trị, chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đồng thời phát huy tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân. Trong bối cảnh thông tin đa chiều và sự tác động mạnh mẽ của mạng xã hội, cán bộ càng phải giữ gìn phẩm chất đạo đức, đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Uy tín của người cán bộ trước hết được xây dựng từ sự gương mẫu, trách nhiệm và tinh thần nói đi đôi với làm. Nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển mới Bên cạnh phẩm chất chính trị, năng lực thực tiễn là yếu tố quyết định hiệu quả công việc. Quá trình chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và yêu cầu đổi mới quản trị đang đặt ra những đòi hỏi ngày càng cao đối với đội ngũ cán bộ. Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cần được thực hiện thường xuyên nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý và khả năng ứng dụng khoa học công nghệ. Mỗi cán bộ phải chủ động tự học, tự rèn luyện, cập nhật kiến thức mới, nâng cao năng lực tham mưu và giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Đồng thời, cần tiếp tục đổi mới công tác đánh giá, sử dụng cán bộ theo hướng thực chất, lấy hiệu quả công việc và kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo quan trọng. Việc phát hiện, đào tạo và sử dụng cán bộ trẻ có năng lực, tư duy đổi mới cũng là nhiệm vụ cần được quan tâm nhằm tạo nguồn cán bộ cho tương lai. Xây dựng uy tín từ kết quả công tác Uy tín là một trong những tiêu chí quan trọng của người cán bộ. Uy tín không tự có mà được hình thành từ quá trình rèn luyện, cống hiến và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Người cán bộ có uy tín là người được tập thể tin tưởng, có tinh thần trách nhiệm, công tâm trong công việc và có khả năng tạo sự đoàn kết trong đơn vị. Vì vậy, công tác đánh giá cán bộ cần bảo đảm khách quan, công khai, gắn với hiệu quả công việc và sự tín nhiệm của tập thể; đồng thời kiên quyết khắc phục bệnh hình thức, thành tích và biểu hiện né tránh trách nhiệm. Phát huy vai trò cán bộ, đảng viên trong các cơ sở giáo dục đại học Đối với các cơ sở giáo dục đại học, đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu; không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, đổi mới phương pháp làm việc và đẩy mạnh nghiên cứu khoa học. Tại Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, việc xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín cần gắn với nâng cao chất lượng đào tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tinh thần trách nhiệm, đổi mới sáng tạo và tận tâm với công việc, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Nhà trường. Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi cơ quan, đơn vị và đất nước. Mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn, phát huy tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng./.   Theo Bản tin Đảng HUBT
HỘI NGHỊ GIÁM ĐỐC CÁC TRUNG TÂM GDTX TOÀN QUỐC LẦN THỨ 32
22/2026

HỘI NGHỊ GIÁM ĐỐC CÁC TRUNG TÂM GDTX TOÀN QUỐC LẦN THỨ 32

Ngày 17/4, tại Sơn La, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) tổ chức Hội nghị Giám đốc các Trung tâm Giáo dục thường xuyên (GDTX) toàn quốc lần thứ 32 với chủ đề “Giáo dục thường xuyên thích ứng với mô hình mới”, nhằm đánh giá kết quả đạt được, nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp phát triển hệ thống GDTX trong giai đoạn mới. Tham dự hội nghị có lãnh đạo Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (GDNN-GDTX), Bộ GDĐT; đại diện các Sở GDĐT; cùng giám đốc các Trung tâm GDTX, Trung tâm GDNN-GDTX trên toàn quốc.   Quang cảnh hội nghị Hội nghị được tổ chức trong bối cảnh ngành Giáo dục nói chung và hệ thống GDTX nói riêng đang đứng trước những yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về tổ chức, nâng cao chất lượng, mở rộng cơ hội học tập suốt đời cho người dân, đồng thời thích ứng với tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Khẳng định vai trò của giáo dục thường xuyên trong bối cảnh mới Phát biểu tại hội nghị, Phó Cục trưởng Cục GDNN-GDTX Nguyễn Xuân Thủy cho biết, chủ đề “Giáo dục thường xuyên thích ứng với mô hình mới” không chỉ là nội dung của một kỳ hội nghị mà là yêu cầu mang tính khách quan đối với toàn hệ thống trong giai đoạn hiện nay. Theo ông Nguyễn Xuân Thủy, hệ thống GDTX đang triển khai nhiệm vụ trong bối cảnh có nhiều thay đổi lớn về chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy, đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập và hoàn thiện hành lang pháp lý của ngành Giáo dục. Đồng thời, hệ thống phải đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập đa dạng, linh hoạt và suốt đời của người dân.   Phó Cục trưởng Cục GDNN-GDTX Nguyễn Xuân Thủy phát biểu tại hội nghị Những thay đổi này vừa tạo ra thách thức, vừa mở ra cơ hội để GDTX khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nếu chủ động đổi mới tư duy quản lý, phương thức tổ chức hoạt động và nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục, các trung tâm GDTX có thể trở thành thiết chế quan trọng trong xây dựng xã hội học tập, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, nâng cao dân trí và thúc đẩy học tập suốt đời. Nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới Tại hội nghị, các đại biểu đã nghe báo cáo và cùng nhìn lại những kết quả nổi bật của hệ thống GDTX trong thời gian qua. Theo đó, chương trình giáo dục thường xuyên ngày càng được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, phù hợp với thực tiễn, bao gồm các chương trình GDTX cấp THCS, THPT, xóa mù chữ, ngoại ngữ, tin học và các chương trình đáp ứng nhu cầu cập nhật kiến thức, kỹ năng cho người học. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của các trung tâm GDTX, GDNN-GDTX, trung tâm ngoại ngữ, tin học và trung tâm học tập cộng đồng tiếp tục được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý để các cơ sở phát huy tính chủ động, linh hoạt.   Đại biểu trao đổi tại hội nghị Đội ngũ nhà giáo từng bước được chuẩn hóa, bảo đảm quyền lợi nghề nghiệp, điều kiện làm việc và vị thế chuyên môn. Đây được xác định là yếu tố then chốt để đổi mới GDTX một cách thực chất. Đáng chú ý, lần đầu tiên hệ thống GDTX được đưa vào đối tượng thụ hưởng của Chương trình mục tiêu quốc gia với quy mô nguồn lực lớn, dự kiến trên 11.000 tỷ đồng trong giai đoạn 1, tạo điều kiện quan trọng để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và thúc đẩy chuyển đổi số. Định hướng 4 nhóm giải pháp trọng tâm Tại hội nghị, lãnh đạo Cục GDNN-GDTX đã đề xuất các nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống GDTX trong thời gian tới. Thứ nhất, sắp xếp lại mạng lưới trung tâm GDTX theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương. Thứ hai, đổi mới tư duy liên kết đào tạo, lấy thị trường lao động làm thước đo, bảo đảm đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn, nâng cao tỷ lệ người học có việc làm sau tốt nghiệp.   Đại biểu tham dự hội nghị Thứ ba, tổ chức thực hiện Chương trình GDTX cấp THPT bảo đảm chất lượng, từ công tác tuyển sinh đến tổ chức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá theo đúng quy định. Thứ tư, chủ động triển khai phổ cập kỹ năng số cho các nhóm đối tượng trong xã hội, góp phần nâng cao dân trí số, thu hẹp khoảng cách số và thúc đẩy xây dựng xã hội học tập trong thời kỳ chuyển đổi số. Đồng thời, tại hội nghị, các đại biểu cũng đã trao đổi, thảo luận nhiều nội dung quan trọng như: mô hình liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng; hợp tác với doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu; tổ chức đào tạo từ xa kết hợp trực tuyến; triển khai các chương trình bồi dưỡng, cấp chứng chỉ và phát triển kỹ năng cho người học. Nhiều mô hình hợp tác hiệu quả được chia sẻ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, tăng khả năng tiếp cận việc làm và bảo đảm quyền lợi thiết thực cho người học.   (https://moet.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop2/hoi-nghi-giam-doc-cac-trung-tam-giao-duc-thuong-xuyen-toan-quoc-lan-thu-32.html )